Dự phóng mức room tín dụng cấp đầu năm theo Thông tư 21/2025

thứ hai, 26/01/2026, 04:02
Với bối cảnh room tín dụng tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sử dụng như một công cụ điều hành trọng yếu, dư địa tăng trưởng năm 2026 có sự phân hóa rõ rệt giữa các ngân hàng. Trong đó, Thông tư 21/2025 (tiếp nối Thông tư 52/2018) - với trọng tâm là khung đánh giá CAMEL - tiếp tục đóng vai trò như một nền tảng tham chiếu quan trọng trong việc quyết định hạn mức tăng trưởng tín dụng của từng tổ chức trong năm tới.

Cách thức điều hành tăng trưởng tín dụng của NHNN trong những năm gần đây đang dần thay đổi theo hướng chọn lọc và phân hóa rõ rệt hơn. Room tín dụng không còn được phân bổ theo một mặt bằng chung mà ngày càng gắn chặt với đánh giá về nền tảng tài chính, mức độ an toàn và năng lực quản trị của từng ngân hàng, nhất là từ khi Thông tư 52 về xếp hạng tổ chức tín dụng được công bố vào cuối năm 2018. Sự thay đổi này khiến hạn mức tín dụng không chỉ phản ánh định hướng điều tiết vĩ mô mà còn trở thành thước đo cho chất lượng hoạt động và mức độ cam kết tăng trưởng bền vững của mỗi tổ chức tín dụng.

Tiếp nối Thông tư 52/2018, Thông tư 21/2025 được xem như bản nâng cấp trong việc xếp hạng ngân hàng, cung cấp bộ khung đánh giá giúp lượng hóa thực trạng hoạt động của các tổ chức. Sự kết hợp cả yếu tố định lượng và định tính trong bộ tiêu chí giúp đánh giá ngân hàng toàn diện hơn. Việc quy đổi các chỉ số về tài chính, quản trị và thanh khoản sang thang điểm CAMEL tạo điều kiện để cơ quan quản lý so sánh tương đối giữa các ngân hàng, làm cơ sở xem xét và phân bổ dư địa tăng trưởng tín dụng. Dựa trên dữ liệu tài chính hiện hành, việc ước tính điểm CAMEL và room tín dụng 2026 phác họa rõ nét hơn bức tranh phân hóa về dư địa tăng trưởng giữa các ngân hàng trong năm tới.

Xếp hạng ngân hàng trên hệ thống điểm CAMEL

Điểm xếp hạng ngân hàng được xây dựng trên nền tảng khung đánh giá theo Thông tư 52/2018, hay mới nhất là Thông tư 21/2025 của NHNN. Về bản chất, cả Thông tư 52 và Thông tư 21 đều hướng tới mục tiêu theo dõi mức độ an toàn, lành mạnh của các tổ chức tín dụng thông qua hệ thống tiêu chí CAMELS, bao gồm: năng lực vốn (C - Capital), chất lượng tài sản (A - Asset quality), quản trị - điều hành (M - Management), hiệu quả kinh doanh (E - Earnings), khả năng thanh khoản (L - Liquidity) và mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (S - Sensitivity). Trong đó, 5 cấu phần cốt lõi CAMEL chiếm tới khoảng 95% tổng trọng số đánh giá, qua đó cho thấy tầm quan trọng của năng lực tài chính, quản trị rủi ro và mức độ cam kết an toàn hệ thống của mỗi ngân hàng.

Biểu đồ 1: Điểm CAMEL 2024 của các ngân hàng dựa trên tiêu chí Thông tư 21/2025/TT-NHNN
Nguồn: Ước tính từ các chỉ tiêu định lượng theo Thông tư 21

So với Thông tư 52/2018, Thông tư 21/2025 về xếp hạng tổ chức tín dụng được xem là bước nâng cấp đáng kể cả về kỹ thuật đánh giá lẫn tư duy giám sát. Khung CAMELS cơ bản vẫn được giữ nguyên, nhưng các tiêu chí được cập nhật theo bối cảnh mới của hệ thống ngân hàng, với yêu cầu cao hơn. Thông tư mới bổ sung và làm rõ một số chỉ tiêu định lượng liên quan đến mức độ tập trung rủi ro tín dụng và cơ cấu tài sản; đồng thời điều chỉnh ngưỡng phân nhóm quy mô ngân hàng lớn để phù hợp với sự gia tăng mạnh về tổng tài sản toàn hệ thống. Bên cạnh đó, vai trò của các yếu tố quản trị - điều hành và chất lượng tài sản được nhấn mạnh hơn thông qua việc điều chỉnh trọng số và mở rộng tiêu chí đánh giá.

Xét trên khía cạnh các chỉ tiêu định lượng, yếu tố vốn được phản ánh qua hệ số an toàn vốn (CAR) và hệ số an toàn vốn cấp 1 theo chuẩn Basel. Chất lượng tài sản được đo lường thông qua tỷ lệ nợ xấu nội bảng và ngoại bảng, mức độ tập trung tín dụng của khách hàng lớn, cũng như tỷ lệ dự phòng cụ thể cho nợ nhóm 2 đến nhóm 5. Nhóm tiêu chí quản trị - điều hành tập trung vào mức độ tuân thủ, khả năng kiểm soát chi phí và tính ổn định trong hoạt động, chủ yếu qua tiêu chí CIR (Chi phí hoạt động trên Tổng thu nhập hoạt động). Hiệu quả kinh doanh được thể hiện qua các chỉ số sinh lời như ROA, ROE và khả năng sinh lãi (NIM), trong khi khả năng thanh khoản phản ánh qua cơ cấu nguồn vốn, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) và tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn.

Dựa trên các tiêu chí trong Thông tư 21, cùng với việc xác định trọng số phù hợp cho từng cấu phần cũng như khai thác các chỉ tiêu có thể lượng hóa từ báo cáo tài chính, điểm CAMEL của mỗi ngân hàng được ước tính và quy đổi về thang điểm từ 1 đến 5 như trong biểu đồ 1. Điểm số càng tiệm cận 5 cho thấy ngân hàng sở hữu nền tảng tài chính vững chắc, mức độ rủi ro thấp và khả năng tuân thủ cao theo chuẩn giám sát của Thông tư 21. Ngược lại, điểm CAMEL càng thấp phản ánh hạn chế ở 1 hoặc nhiều trụ cột trong khung đánh giá, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến xếp hạng điểm trong ngành, cũng như khả năng được phân bổ room tín dụng trong năm tiếp theo.

Kết quả chấm điểm dựa trên số liệu tài chính năm 2024 cho thấy mức độ phân hóa khá rõ rệt giữa các ngân hàng trong hệ thống. Nhóm đạt điểm CAMEL cao nhất tập trung chủ yếu ở các ngân hàng quy mô lớn và uy tín trong ngành. Trong đó, top 7 ngân hàng ghi nhận điểm số trên 4.5 với những cái tên nổi bật như ACB, TPB, VCB, TCB, MBB. Top 7 phản ánh sự hội tụ đồng thời của năng lực vốn tốt, chất lượng tài sản dẫn đầu và hiệu quả kinh doanh bền vững. Song, một số ngân hàng trong nhóm có đánh giá chưa cao về khả năng thanh khoản do tỷ lệ LDR khá cao, như: VCB, SSB, MBB.

Theo sát phía sau là nhóm có điểm dao động từ 4.2 - 4.4, bao gồm: HDB, CTG, EIB, SHB, MSBBID. Nhóm cho thấy nền tảng tài chính tương đối vững chắc, dù vẫn tồn tại khoảng cách nhất định so với nhóm dẫn đầu. Một số cấu phần có tỷ trọng lớn trong tổng điểm như chất lượng tài sản chưa đủ nổi bật để giúp nhóm này bứt phá lên nhóm trên. Ngoại trừ ngân hàng quốc doanh, các ngân hàng tư nhân trong nhóm này ghi nhận đánh giá chất lượng tài sản ở ngưỡng trung bình khá. Thêm vào đó, sự chênh lệch của nhóm này so với top 7 còn từ yếu tố hiệu quả kinh doanh thiếu lợi thế vượt trội, dao động ở ngưỡng trung bình ngành.

Ở chiều ngược lại, các ngân hàng có điểm CAMEL thấp hơn cho thấy những hạn chế rõ hơn về các khía cạnh đánh giá. Nhóm nằm ở ngưỡng thấp từ 3.3 - 3.8 - chủ yếu là các ngân hàng quy mô nhỏ, nơi những điểm yếu ở 1 hoặc nhiều trụ cột CAMEL vẫn hiện hữu. Trường hợp BVBSGB cho thấy điểm số thấp ở 4 cấu phần quan trọng, bao gồm chất lượng tài sản, quản trị - điều hành, hiệu quả kinh doanh và thanh khoản. Với ABB, hiệu quả kinh doanh và quản trị chi phí hoạt động là yếu tố kéo giảm điểm tổng thể; trong khi tại NVB, chất lượng tài sản tiếp tục là nút thắt lớn trong giai đoạn 2022-2024, qua đó ảnh hưởng đáng kể đến đánh giá CAMEL và dư địa tăng trưởng tín dụng.

Ước tính room tín dụng từ điểm CAMEL

NHNN công bố định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026 ở mức khoảng 15% - thấp hơn đáng kể so với mức tăng trưởng thực tế gần 19% của năm 2025. Trong cơ chế phân bổ room tín dụng năm 2026, NHNN tiếp tục dựa trên điểm đánh giá các tổ chức tín dụng theo kết quả năm 2024, sau đó nhân với một hệ số điều chỉnh chung. Hạn mức trong năm 2026 được xác định theo công thức mới, hệ số nhân chỉ còn 2.6% - thấp hơn đáng kể so với mức 3.5% được áp dụng ở năm 2025, thể hiện quan điểm thận trọng của NHNN sau một năm tăng trưởng tín dụng khá cao vừa rồi.

Một điểm chúng ta cần phải lưu ý trong cấu trúc vận hành của hệ thống ngân hàng là mức room tín dụng tăng trưởng tín dụng 15% được tính trên toàn hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, đối với 27 ngân hàng niêm yết chỉ chiếm 80% thì mức tăng trưởng sẽ có thể cao hơn, trung bình lên đến 17 - 18%, do các ngân hàng chưa niêm yết (Agribank) hoặc đang tái cấu trúc thường sẽ có mức tăng trưởng thấp hơn nhiều. Do đó, mức room theo công thức tính ở trên chỉ là phần giao room tín dụng đầu năm. Trong nửa sau của năm 2026, NHNN sẽ giao bổ sung, dựa vào diễn biến vĩ mô và mức độ giải ngân của các ngân hàng.

Trên cơ sở điểm CAMEL đã ước tính, biểu đồ 2 phản ánh room tín dụng dự kiến của các ngân hàng trong năm 2026. Trong đó, tác giả nhân điểm CAMEL của từng ngân hàng với hệ số điều chỉnh chung (2.6%) để xác định mức room tương ứng. Nhóm ngân hàng có điểm CAMEL cao nhất cũng là nhóm sở hữu dư địa tăng trưởng tín dụng lớn hơn. Ngược lại, các ngân hàng có điểm CAMEL thấp hơn đối mặt với mức phân bổ room khiêm tốn hơn, phản ánh sự nhất quán và phù hợp với cơ chế phân bổ tín dụng hiện nay.

ACB, LPB và TPB là các ngân hàng được ước tính sở hữu room tín dụng cao nhất, xoay quanh ngưỡng 12.5%, thuộc nhóm dẫn đầu so với mặt bằng chung toàn ngành. Theo sau là VCB, SSB, TCB, và MBB với room tín dụng ước tính trên 12%. Kết quả này phản ánh trực tiếp nền tảng tài chính tích cực của các ngân hàng trong năm 2024, khi chất lượng tài sản được kiểm soát tốt, hiệu quả kinh doanh duy trì ổn định và năng lực quản trị - điều hành được đánh giá cao, qua đó giúp điểm CAMEL đạt mức tốt và tạo dư địa hạn mức tín dụng lớn hơn trong năm 2026.

Biểu đồ 2: Ước tính room tín dụng giao đầu năm 2026 dựa trên điểm CAMEL
Nguồn: Tác giả ước tính từ Thông tư 21/2025

Ở nhóm ngân hàng có điểm CAMEL mức trung bình khá, như: HDB, CTG, EIB, SHB, MSB, và BID; room tín dụng ước tính nằm trong khoảng 11 - 11.5%. Mức phân bổ này cho thấy định hướng tăng trưởng tương đối cân bằng: không quá vượt trội so với toàn hệ thống, nhưng vẫn đủ rộng để duy trì nhịp tăng trưởng ổn định, phù hợp với vai trò và quy mô của các ngân hàng này trong hệ thống. Trong khi đó, ở nhóm ngân hàng có điểm CAMEL dưới ngưỡng 4, room tín dụng ước tính thu hẹp đáng kể, chủ yếu dao động trong vùng 9 - 10% hoặc thấp hơn. Các ngân hàng ABB, BVB và SGB ghi nhận room ước tính thấp hơn, khoảng 8.5 - 9.0%, còn NVB - ngân hàng có điểm CAMEL thấp nhất trong mẫu - chỉ được room tín dụng quanh mức 6%. Diễn biến này cho thấy, các ngân hàng có nền tảng tài chính và quản trị yếu hơn sẽ hạn chế về dư địa tăng trưởng tín dụng hơn trong năm tới.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, các ước tính trên chưa bao hàm đầy đủ một số yếu tố quan trọng khác trong điều hành thực tế. Thứ nhất, dù tiêu chí định lượng chiếm 70% tổng điểm trong khung đánh giá, nhóm tiêu chí định tính cũng đóng vai trò nhất định khi chiếm khoảng 30%. Các tiêu chí này tập trung vào mức độ tuân thủ quy định về an toàn vốn, quản lý xếp hạng tín dụng nội bộ, trích lập dự phòng, thanh khoản và quản lý rủi ro thị trường; qua đó phản ánh kỷ luật hoạt động, tính minh bạch và mức độ bền vững dài hạn của từng ngân hàng. Thứ hai, một số ngân hàng tham gia nhận chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng yếu kém, như: VCB, MBB, VPB và HDB có thể được hưởng cơ chế ưu tiên về hạn mức tín dụng, với mức room cao hơn mặt bằng chung, đặc biệt là với các ngân hàng tư nhân vốn có bộ đệm vốn mạnh mẽ.

Mặt khác, định hướng tăng trưởng của từng ngân hàng cũng là biến số quan trọng. Điển hình như VCB, dù luôn nằm trong nhóm dẫn đầu về điểm CAMEL, nhưng trong những năm gần đây lại duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng tương đối thận trọng, dao động quanh mức trung bình ngành. Điều này phản ánh đặc trưng của một ngân hàng quốc doanh lớn, ưu tiên ổn định và an toàn hệ thống hơn là mở rộng quy mô. Chính sự thận trọng này có thể tạo dư địa để NHNN phân bổ thêm room cho các ngân hàng khác có nhu cầu và khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế tốt hơn, qua đó bảo đảm mục tiêu tăng trưởng tín dụng chung của toàn hệ thống.

Room tín dụng năm 2026 tiếp tục được định hình trên cơ sở xếp hạng chất lượng hoạt động của từng ngân hàng theo khung CAMEL tại Thông tư 52/2018 và Thông tư 21/2025. Cách tiếp cận này làm nổi bật sự khác biệt về sức khỏe nội tại và khả năng cam kết bền vững giữa các tổ chức tín dụng. Qua đó, chính sách room tín dụng không chỉ đóng vai trò kiểm soát quy mô tín dụng mà còn trở thành công cụ khuyến khích các ngân hàng nâng cao chất lượng vốn, cải thiện hiệu quả hoạt động, củng cố nền tảng an toàn và hướng tới mục tiêu ổn định hệ thống trong dài hạn.

Lê Hoài Ân, CFA - Nguyễn Thị Ngọc An, HUB

FILI

icon

Bài viết liên quan

Áp lực gia tăng lên lãi suất bởi chiến sự tại Trung Đông
Tiền tệ 06/03/2026

Áp lực gia tăng lên lãi suất bởi chiến sự tại Trung Đông

Vì sao phải 'nắn dòng' tín dụng?
Tiền tệ 27/01/2026

Vì sao phải 'nắn dòng' tín dụng?

Dự phóng mức room tín dụng cấp đầu năm theo Thông tư 21/2025
Tiền tệ 26/01/2026

Dự phóng mức room tín dụng cấp đầu năm theo Thông tư 21/2025

Hơn 10.3 tỷ USD kiều hối chuyển về TPHCM trong năm 2025
Tiền tệ 23/01/2026

Hơn 10.3 tỷ USD kiều hối chuyển về TPHCM trong năm 2025

icon

Đặc sắc

Đại hội XIV của Đảng rút ngắn thời gian làm việc, bế mạc vào ngày 23/1
Thời sự 22/01/2026

Đại hội XIV của Đảng rút ngắn thời gian làm việc, bế mạc vào ngày 23/1

Bộ trưởng Tài chính: Đến cuối năm 2026, quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán tăng gấp đôi so với năm 2020
Thời sự 21/01/2026

Bộ trưởng Tài chính: Đến cuối năm 2026, quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán tăng gấp đôi so với năm 2020

Chủ tịch Nguyễn Văn Được: TPHCM nhận trách nhiệm 'đi trước mở đường' và lan tỏa động lực phát triển
Thời sự 21/01/2026

Chủ tịch Nguyễn Văn Được: TPHCM nhận trách nhiệm 'đi trước mở đường' và lan tỏa động lực phát triển

Đại hội XIV: Giải pháp chiến lược để đảm bảo tăng trưởng kinh tế hai con số
Thời sự 21/01/2026

Đại hội XIV: Giải pháp chiến lược để đảm bảo tăng trưởng kinh tế hai con số

Quy trình bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư khóa mới
Thời sự 21/01/2026

Quy trình bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư khóa mới

icon

Mới nhất