“Một xu hướng quan trọng là sự gia tăng đầu tư từ Bắc Mỹ và châu Âu vào châu Á. Và làm cách nào để nắm bắt được điều này, thông qua việc huy động vốn hoặc đảm bảo khả năng dễ tiếp cận cổ phiếu cho nhà đầu tư?”, ông Daniel Clark, Giám đốc Khối Dịch vụ Tín thác và Chứng khoán khu vực châu Á Thái Bình Dương và Trung Đông của Deutsche Bank, đặt vấn đề tại Hội thảo “Vietnam Global Capital Access: Overseas Listings, DRs and the IFC” ngày 18/6 do Chứng khoán SSI phối hợp cùng Deutsche Bank tổ chức.
Theo vị này, chính các doanh nghiệp Việt Nam phải quyết định liệu việc tiếp cận thị trường vốn quốc tế có phù hợp với chiến lược phát triển của mình hay không.
Nếu muốn huy động vốn quốc tế, các doanh nghiệp cần chuẩn bị về quản trị công ty, báo cáo tài chính, quan hệ nhà đầu tư, công bố thông tin và xây dựng câu chuyện tăng trưởng dài hạn cho cổ phiếu.
Doanh nghiệp cũng cần cân nhắc việc niêm yết ở nước ngoài, phát hành chứng chỉ lưu ký Mỹ (ADR), chứng chỉ lưu ký toàn cầu (GDR) hay các cơ hội liên quan đến Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) trong tương lai.
Đại diện Deutsche Bank nhìn nhận thị trường vốn Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới. Lộ trình nâng hạng lên thị trường mới nổi, triển khai hệ thống KRX, phát triển cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP), khuôn khổ pháp lý cho chứng chỉ lưu ký (DR) và tham vọng xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế đều nhằm mục tiêu mở rộng “khả năng tiếp cận” cho nhà đầu tư.
Ông Daniel Clark cho rằng những nổ lực đó tạo điều kiện cho các nhà đầu tư quốc tế dễ tiếp cận thị trường vốn Việt Nam và ngược lại các doanh nghiệp Việt Nam cũng tiếp cận được nguồn vốn toàn cầu dồi dào hơn.
Đồng quan điểm, ông Bùi Hoàng Hải, Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cũng nhấn mạnh việc cải cách “khả năng tiếp cận” là một trong những nguyên tắc cốt lõi để giúp Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp, nâng cao khả năng tiếp cận của nhà đầu tư quốc tế.
Tuy nhiên, đại diện UBCKNN cho rằng đây không phải là điểm kết thúc của quá trình cải cách mà là đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, thời kỳ các tổ chức đầu tư toàn cầu quan tâm hơn nhưng kỳ vọng cũng gia tăng.
Niêm yết song song, ADR, GDR và sự phát triển của Trung tâm Tài chính Quốc tế cần được xem là một phần trong chương trình cải cách, nhằm kết nối doanh nghiệp Việt Nam với nguồn vốn toàn cầu; đồng thời cải thiện chiều sâu và uy tín của thị trường Việt Nam.
Bên cạnh khả năng tiếp cận thị trường, các tổ chức nước ngoài cũng sẽ đánh giá chất lượng công bố thông tin, quản trị công ty, hạ tầng thanh toán bù trừ, hoạt động quan hệ nhà đầu tư và khả năng truyền tải chiến lược dài hạn của doanh nghiệp.
Theo ông Hải, khả năng tiếp cận cần được nhìn nhận theo cả hai chiều. Nhà đầu tư quốc tế cần các kênh tiếp cận phù hợp tại thị trường Việt Nam, thì các doanh nghiệp trong nước cũng cần thêm cơ hội huy động nguồn vốn quốc tế dài hạn.
“Niêm yết song song, ADR (Chứng chỉ lưu ký Mỹ), GDR (Chứng chỉ lưu ký toàn cầu) và sự phát triển của Trung tâm Tài chính Quốc tế cần được xem là một phần trong chương trình cải cách, nhằm kết nối doanh nghiệp Việt Nam với nguồn vốn toàn cầu; đồng thời cải thiện chiều sâu và uy tín của thị trường Việt Nam”, ông Hải nêu một số giải pháp.
Phó Chủ tịch UBCKNN khuyến khích các doanh nghiệp muốn tiếp cận nhà đầu tư quốc tế cần đầu tư sớm vào quản trị, công bố thông tin, hoạt động quan hệ nhà đầu tư, truyền thông bằng tiếng Anh, công bố thông tin ESG…
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là giúp doanh nghiệp huy động vốn quốc tế mà là xây dựng một hệ sinh thái thị trường vốn, nơi các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận nhà đầu tư toàn cầu; đồng thời đóng góp cho chiều sâu và sức mạnh của thị trường vốn Việt Nam.





















