Cuộc xung đột giữa Mỹ-Israel với Iran đã đẩy thế giới vào cuộc khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng chưa từng thấy, gây ra tình trạng gián đoạn sản xuất và kéo giá nhiên liệu lên cao. Mức giá leo thang đó đã tạo ra nguồn lợi nhuận khổng lồ cho các công ty hoạt động bên ngoài Vịnh Ba Tư - đặc biệt là Mỹ, đang gia tăng đáng kể hoạt động xuất khẩu năng lượng.

Nhưng bên trong Vịnh Ba Tư, câu chuyện lại phức tạp hơn nhiều. Việc Eo biển Hormuz - tuyến vận chuyển khoảng 20% lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên toàn cầu - bị đóng cửa trên thực tế đã buộc Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), Iraq và các quốc gia khác phải cắt giảm mạnh sản lượng cũng như xuất khẩu.
Một số nước đang phải chịu tổn thất nặng nề hơn những nước khác. Những quốc gia có thể sử dụng các đường ống dẫn dầu để chuyển hướng nguồn dầu đến các cảng nằm xa eo biển này đang có tình hình khả quan hơn nhiều so với những nước không có các lựa chọn thay thế như vậy.

Cuộc khủng hoảng năng lượng này ảnh hưởng đến tất cả mọi người, nhưng không đồng đều. Tờ New York Times đã phân tích dữ liệu xuất khẩu và giá cả trong nhiều tháng từ S&P Global Energy Commodities at Sea và Argus Media nhằm đánh giá xem một số nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới đã bán ra bao nhiêu và với mức giá nào. Phân tích này tập trung cụ thể vào dầu mỏ và các sản phẩm liên quan được xuất khẩu bằng đường biển - vốn là những mặt hàng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do việc đóng cửa Eo biển Hormuz.
Việc nắm bắt bên hưởng lợi và bên chịu thiệt hại sẽ giúp lý giải tại sao một số quốc gia lại có vị thế tốt hơn trong chống chọi với những hệ lụy kinh tế từ cuộc xung đột này. Điều này cũng cung cấp những manh mối về tương lai. Nếu Eo biển Hormuz không còn là một tuyến đường vận tải đáng tin cậy, những nước đang chiếm ưu thế hiện nay có khả năng sẽ tiếp tục duy trì vị thế áp đảo của mình. Ngược lại, nếu eo biển mở cửa trở lại, khả năng phục hồi của các quốc gia sẽ phụ thuộc vào việc giai đoạn đóng cửa vừa qua đã gây tổn thất đến mức nào.
“Eo biển càng đóng cửa lâu, những nước đã và đang hưởng lợi từ thực tế này sẽ càng có lợi,” ông Jim Burkhard, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu dầu mỏ toàn cầu tại S&P Global Energy, cho biết. “Còn đối với những quốc gia đang gặp khó khăn từ đó, tình hình có thể sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn.”
Vị thế dẫn đầu của Mỹ và sự phân bổ lợi nhuận

Mỹ hiện là nhà sản xuất dầu mỏ và khí đốt tự nhiên lớn nhất thế giới. Điều này phần nào giúp giảm thiểu tác động kinh tế từ cuộc xung đột mà nước này và Israel đã khơi mào. Tính đến cuối tháng 3, các công ty Mỹ đã xuất khẩu lượng dầu mỏ, dầu diesel và các loại nhiên liệu khác nhiều hơn hẳn so với mức bình thường. Điều đó đã giúp bù đắp một phần nhỏ lượng năng lượng thiếu hụt trên toàn cầu và giữ cho giá cả không tăng cao hơn nữa.
Tuy nhiên, khác với nhiều quốc gia sản xuất dầu lớn khác, Mỹ không có công ty dầu khí thuộc sở hữu nhà nước. Điều này đồng nghĩa với việc các tập đoàn dầu khí lớn đang "đút túi" phần lớn nguồn doanh thu đột biến này. Cho đến nay, có rất ít dấu hiệu cho thấy các công ty này sẽ tái đầu tư số tiền kiếm được vào việc khoan thêm giếng dầu hoặc thuê thêm nhân công. Vì vậy, khó có khả năng xảy ra một sự bùng nổ kinh tế lớn tại các bang sản xuất dầu như Texas hay New Mexico.
Thay vào đó, phần lớn nguồn doanh thu tăng thêm này có khả năng sẽ mang lại lợi ích cho các nhà đầu tư dưới hình thức giá cổ phiếu cao hơn và cổ tức lớn hơn. Nhiều chính quyền bang cũng sẽ thu về nhiều hơn nhờ nhận được các khoản thuế và tiền bản quyền khai thác (royalty) lớn hơn; điều tương tự cũng diễn ra với những chủ đất đã cho phép khoan dầu trên đất của mình.
Nga không tăng xuất khẩu nhưng doanh thu tăng 15 tỷ USD

Nga cũng là một quốc gia được hưởng lợi lớn - không phải vì bán được nhiều dầu hơn, mà vì doanh thu lớn hơn. Lý do chính là chiến sự đã khiến giá dầu trên toàn thế giới tăng vọt. Ngoài ra, Mỹ cũng tạm thời dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt đối với một số loại dầu của Nga vào tháng 3, một sự thay đổi chính sách đột ngột rất có thể đã giúp Nga thu về nhiều tiền hơn. Chẳng hạn, vào đầu tháng 4, giá dầu của Nga bán ngoài khơi Vịnh Phần Lan đã tiếp cận mức 120 USD/thùng, tăng từ mức 41 USD trước chiến sự ở Trung Đông.
Biến động phức tạp ở các quốc gia Vùng Vịnh

Ngược lại, hầu hết quốc gia Vùng Vịnh không may mắn được như vậy. Cuộc xung đột ở Iran đã làm nổi bật lên tầm quan trọng của việc có các tuyến xuất khẩu khác ngoài Eo biển Hormuz. Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) vượt qua giai đoạn này tương đối tốt vì đã đầu tư từ nhiều năm trước vào các đường ống dầu vòng qua Eo biển Hormuz - một hình thức bảo hiểm tốn kém nhưng đang phát huy tác dụng. Xuất khẩu của Saudi Arabia đã giảm hơn 150 triệu thùng trong thời gian xung đột so với một năm trước đó, nhưng doanh thu từ các đợt bán hàng đó ước tính tăng thêm 9,2 tỷ USD.
Iran, nước đang kiểm soát quyền tiếp cận Eo biển Hormuz, cũng vượt qua tương đối tốt cho đến giữa tháng 4. Tuy nhiên, xuất khẩu của nước này đã lao dốc sau khi Mỹ áp đặt lệnh phong tỏa hải quân nhắm vào các tàu có liên hệ với Iran, càng làm gia tăng áp lực lên nền kinh tế của nước cộng hòa Hồi giáo.
Các quốc gia lân cận không có quyền kiểm soát eo biển cũng như không có các tuyến xuất khẩu thay thế đã bị ảnh hưởng đặc biệt nặng nề. Trong số đó có Iraq, Kuwait và Qatar.
Các quan chức ở một số quốc gia Vùng Vịnh đã bắt đầu tính tới việc xây dựng hoặc mở rộng các đường ống có thể vòng tránh Eo biển. Tuy nhiên, các dự án như vậy có thể tiêu tốn hàng tỷ USD và mất nhiều năm. Trong tương lai gần, các quốc gia này có thể sẽ vẫn phụ thuộc vào bất kỳ ai nắm quyền kiểm soát Eo biển Hormuz.
(Theo New York Times)




















