Việc đánh giá hậu quả kinh tế từ chiến sự giữa Mỹ, Israel và Iran đòi hỏi phải giải quyết các câu hỏi về thời điểm kết thúc xung đột. Nhưng điều này phụ thuộc vào câu trả lời của hai câu hỏi khác. Thứ nhất, liệu ông Donald Trump có chùn bước vào phút chót? Và thứ hai, liệu việc chấm dứt chiến sự đối với ông Trump có đồng nghĩa với Iran hay Israel, hoặc là cả hai cũng dừng lại?
"Điều khó lường là ý đồ của nhà lãnh đạo Mỹ. Có lẽ chính ông cũng không biết", ông Martin Wolf viết trong bài bình luận trên Financial Times.
Hôm 9/3, ông Trump đã nói trong một cuộc họp báo rằng chiến sự sẽ kết thúc "rất sớm". Tuy nhiên, hai ngày trước đó, Tổng thống Mỹ viết trên Truth Social rằng “sẽ không có thỏa thuận nào với Iran ngoại trừ họ đầu hàng! Và sau khi lựa chọn được một (hoặc nhiều) nhà lãnh đạo vĩ đại và được chấp nhận, chúng tôi, cùng với nhiều đồng minh, đối tác tuyệt vời và rất dũng cảm, sẽ nỗ lực không ngừng để đưa Iran thoát khỏi bờ vực suy vong.”
Có vẻ như Iran đang quyết tìm kiếm phần thắng, chứ không phải sự đầu hàng vô điều kiện, một hành động cũng rất khó xảy ra sau một chiến dịch không kích thông thường. Sau hơn hai năm bị Israel dội bom, Hamas vẫn chưa đầu hàng vô điều kiện. Iran chắc chắn sẽ không làm như vậy. Viễn cảnh đầu hàng vô điều kiện có lẽ sẽ phải liên quan tới một kịch bản có sự xuất hiện của vũ khí hạt nhân. Liệu chính quyền của ông Trump có liều lĩnh tới mức đó?
Hoạt động vận chuyển thương mại ở vùng Vịnh bị đình trệ và giá dầu tăng vọt. Ảnh: Reuters.
Một lệnh ngừng bắn dường như là khả năng hợp lý hơn cả. Mỹ có thể cho rằng đã gây đủ thiệt hại và quyết định ngừng các cuộc tập kích. Iran gánh nhiều tổn thất, có thể quyết định ngừng tấn công các nước láng giềng.
Tóm lại, một lệnh ngừng bắn, chứ không phải hiệp định hòa bình, dường như là khả năng khả thi trong ngắn hạn, chủ yếu xuất phát từ những lo ngại của ông Trump về giá dầu.
Ba kịch bản
Diễn biến của cuộc xung đột tác động tới nền kinh tế thế giới như thế nào? Điều đó phụ thuộc vào những gì xảy ra với các chuyến hàng dầu khí từ khu vực và mức độ thiệt hại về dài hạn đối với các cơ sở dầu khí.
Capital Economics, công ty tư vấn có trụ sở tại London (Anh), phân tích ba kịch bản.

Kịch bản đầu tiên là một cuộc xung đột ngắn, dữ dội, kéo dài khoảng hai tuần. Ước tính thiệt hại khoảng 1.4% tổng lượng xuất khẩu dầu mỏ hàng năm toàn cầu và mức tương tự đối với xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG).
Kịch bản thứ hai là một cuộc xung đột kéo dài ba tháng, nhưng với thiệt hại dài hạn ở mức hạn chế đối với các cơ sở dầu khí. Ước tính cho kịch bản này là thiệt hại 5-6% lượng xuất khẩu dầu thô và LNG thế giới vào năm 2026.
Kịch bản thứ ba cũng là một cuộc xung đột kéo dài ba tháng, nhưng với thiệt hại dài hạn lớn hơn đối với năng lực sản xuất, đặc biệt là đối với đảo Kharg của Iran. Ước tính ở đây là thiệt hại 8-9% lượng xuất khẩu dầu mỏ và LNG thế giới, với tác động kéo dài đến năm 2027. Giá dầu có thể tới mốc 150 USD/thùng một thùng và giá khí đốt tại EU (mỗi megawatt giờ) có thể lên tới 120 Euro. Theo Capital Economics, cú sốc nguồn cung toàn cầu duy nhất có thể so sánh với kịch bản này là “từ cuối những năm 1970 đến giữa những năm 1980”.
Chiến sự kéo dài và gây thiệt hại lớn sẽ có những tác động đáng kể đến mức giá và hoạt động kinh tế. Ở các nước nghèo, tác động có thể rất nghiêm trọng. Ở các nước phương Tây, nơi “khả năng chi trả” đã trở thành một vấn đề chính trị, việc giá năng lượng tăng vọt sẽ khiến người dân bất bình.
Dù tăng trưởng kinh tế sẽ bị ảnh hưởng, các chuyên gia cho rằng hậu quả sẽ không nghiêm trọng như cú sốc cuối những năm 1970. Theo quan điểm của Paul Krugman - nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel Kinh tế, và Martin Sandbu - nhà bình luận kinh tế của Financial Times, nền kinh tế hiện nay ít phụ thuộc vào dầu mỏ hơn, châu Âu đã chứng tỏ khả năng điều chỉnh tốt hơn với giá khí đốt cao. Một lý do khác là các ngân hàng trung ương đã phản ứng tốt hơn nhiều trong việc kiềm chế nguy cơ lạm phát sau khi rút ra bài học từ những năm 1970.
(Theo Financial Times)




















