Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động và mặt bằng lãi suất tiền đồng chịu áp lực đi lên, nhiều ngân hàng Việt Nam đang tăng cường tiếp cận các nguồn vốn quốc tế, đặc biệt là vốn trung và dài hạn.
Xu hướng này diễn ra khi các nhà băng phải xử lý bài toán lệch pha giữa tăng trưởng tín dụng và khả năng huy động vốn trong nước.
Kể từ năm 2021 đến tháng 4/2026, tín dụng luôn tăng nhanh hơn tiền gửi, khiến khoảng cách giữa quy mô cho vay và huy động ngày càng lớn. Đến cuối tháng 4/2026, phần chênh lệch này ước đạt khoảng 2,06 triệu tỷ đồng.
Tính đến giữa tháng 5, tổng tiền gửi toàn hệ thống đã vượt 17 triệu tỷ đồng, tăng 2,98% so với đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với mức tăng tín dụng 5,71%. Diễn biến này khiến tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) của toàn hệ thống tiếp tục duy trì trên 100%, phản ánh áp lực thanh khoản vẫn chưa hạ nhiệt.

Trong bối cảnh đó, việc vay vốn quốc tế, phát hành trái phiếu hoặc hợp tác với các định chế tài chính nước ngoài được xem là một kênh bổ sung quan trọng.
HDBank là một trong những ngân hàng đang mở rộng hiện diện trên thị trường vốn quốc tế. Trong khuôn khổ hợp tác với Sở Giao dịch chứng khoán London, ngân hàng này đã công bố kế hoạch phát hành tối đa 300 triệu USD trái phiếu xanh quốc tế. Đây được xem là bước đi nhằm tăng khả năng kết nối với các nhà đầu tư toàn cầu trong bối cảnh dòng vốn quốc tế ngày càng ưu tiên các tiêu chí bền vững.
Trước đó, HDBank đã huy động gần 1 tỷ USD vốn xanh từ các định chế tài chính quốc tế. Ngân hàng này cũng thiết lập hợp tác với IFC trong các lĩnh vực như tài chính khí hậu, tài chính bền vững, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như phát triển tài chính chuỗi cung ứng.
Không riêng HDBank, VIB cũng đã lên kế hoạch huy động khoảng 1 tỷ USD từ thị trường quốc tế, bao gồm khả năng phát hành trái phiếu. Theo thông tin được công bố, khi thăm dò một thương vụ khoảng 500 triệu USD, ngân hàng này đã nhận được sự quan tâm từ nhiều định chế tài chính nước ngoài.
VPBank cũng đang tận dụng nguồn vốn quốc tế thông qua đối tác chiến lược SMBC (Nhật Bản). Nguồn vốn từ đối tác này được đánh giá có kỳ hạn dài hơn và trong một số thời điểm có chi phí thấp hơn so với huy động trong nước, giúp ngân hàng giảm bớt áp lực cạnh tranh lãi suất trên thị trường nội địa.
Trong khi đó, Nam A Bank đang tiến tới ký kết một khoản vay khoảng 100 triệu USD với IFC. Khoản vay dự kiến gồm 50 triệu USD dành cho tài trợ thương mại, phần còn lại là vốn trung và dài hạn. Trong năm nay, ngân hàng này đặt mục tiêu huy động khoảng 300 triệu USD từ các định chế tài chính nước ngoài. Nếu hoàn tất, tổng danh mục vốn quốc tế của Nam A Bank từ trước đến nay có thể đạt khoảng 500 triệu USD.
Nguồn vốn này không chỉ giúp các nhà băng giảm phụ thuộc vào thị trường nội địa, mà còn hỗ trợ các ngân hàng kéo dài kỳ hạn vốn, qua đó giảm áp lực “huy động ngắn hạn, cho vay trung dài hạn”.
Chi phí vốn USD đã hạ nhiệt
Việc các ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn ngoại diễn ra trong bối cảnh chi phí vốn trong nước đã tăng đáng kể.
Lãi suất huy động kỳ hạn dài tại một số ngân hàng đã lên vùng 9-10% mỗi năm, tạo thêm áp lực lên mặt bằng lãi suất cho vay.
Trong khi đó, nếu tiếp cận được nguồn vốn quốc tế với chi phí hợp lý và kỳ hạn dài hơn, các ngân hàng có thể giảm bớt sức ép phải tăng lãi suất huy động trong nước.
Mặt bằng lãi suất USD hiện được đánh giá là đủ hấp dẫn để các tổ chức quốc tế cân nhắc giải ngân quy mô lớn vào Việt Nam.
Sau các đợt cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trong năm 2025, chi phí vốn USD đã hạ nhiệt. Dù vẫn phải cộng thêm biên độ rủi ro tín dụng và chi phí hoán đổi ngoại tệ, việc vay vốn quốc tế đang trở nên khả thi hơn với một số ngân hàng có năng lực tài chính và quản trị đáp ứng chuẩn của nhà đầu tư nước ngoài.
Ở chiều ngược lại, để tiếp cận các khoản vay hoặc phát hành quốc tế, ngân hàng trong nước phải đáp ứng nhiều điều kiện khắt khe hơn, từ năng lực tài chính, quản trị rủi ro, minh bạch thông tin đến các cam kết về sử dụng vốn. Một thương vụ huy động vốn quốc tế thường cần thời gian chuẩn bị, hoàn thiện hồ sơ pháp lý và đàm phán với nhà đầu tư.
Dòng vốn quốc tế được cho là vẫn có sự quan tâm lớn tới Việt Nam nhờ triển vọng tăng trưởng kinh tế, kỳ vọng nâng hạng thị trường chứng khoán và khả năng cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
Bên cạnh đó, việc Việt Nam thúc đẩy mô hình trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM cũng tạo thêm kỳ vọng về khả năng kết nối sâu hơn với các dòng vốn khu vực và toàn cầu.
Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng cơ hội huy động vốn ngoại không chia đều cho mọi ngân hàng. Những tổ chức có quy mô lớn, chất lượng tài sản tốt, hệ số an toàn vốn cao, chiến lược phát triển rõ ràng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế sẽ có lợi thế hơn trong việc tiếp cận dòng vốn này.

















.jpeg)


