Ngày 9/6 tại Hà Nội, Báo Lao Động phối hợp cùng Bộ Công Thương tổ chức Hội thảo “Chuyển dịch năng lượng - Động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số”, nhằm thảo luận các giải pháp bảo đảm an ninh năng lượng cho giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế.
Áp lực cung ứng điện và nhu cầu vốn khổng lồ
Phát biểu tại hội thảo, ông Trịnh Quốc Vũ, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương), cho biết Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đặt mục tiêu tăng trưởng GDP giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên. Để đáp ứng yêu cầu này, ngành năng lượng đang đối mặt áp lực rất lớn về bảo đảm nguồn cung.
Theo kịch bản vận hành cực đoan do Bộ Công Thương xây dựng, phụ tải điện năm 2026 có thể tăng tới 14,1%. Riêng miền Bắc, công suất đỉnh được dự báo đạt khoảng 32.000 MW trong các đợt nắng nóng cao điểm.
Bên cạnh áp lực về nhu cầu điện, bài toán vốn đầu tư cũng được đánh giá là thách thức lớn. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Quang, Viện trưởng Viện Công nghệ năng lượng (Đại học Bách khoa Hà Nội), cho biết Quy hoạch điện VIII điều chỉnh ước tính nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn và lưới điện giai đoạn 2026-2030 vào khoảng 136-150 tỷ USD, tương đương 27-30 tỷ USD mỗi năm, bằng khoảng 6-7% GDP hiện nay.

Trong khi đó, dù năng lượng tái tạo đã phát triển mạnh, chiếm gần 28% tổng công suất nguồn điện với khoảng 24.000 MW trên tổng số 87.600 MW của hệ thống, tỷ lệ huy động thực tế trong năm 2025 chỉ đạt 12-16% do đặc tính phụ thuộc thời tiết.
Các chuyên gia nhận định một trong những nghịch lý lớn hiện nay là nguồn điện sạch gia tăng nhanh nhưng hệ thống vẫn đối mặt nguy cơ thiếu điện.
Theo ông Nguyễn Xuân Quang, hạ tầng lưới điện hiện được thiết kế cho các nguồn điện tập trung truyền thống nên chưa sẵn sàng tiếp nhận quy mô lớn các nguồn điện tái tạo phân tán. Vì vậy, nhiều dự án điện gió, điện mặt trời tại miền Trung và miền Nam thường xuyên bị cắt giảm công suất từ 20-30%, thậm chí tới 50-60% trong một số khung giờ để bảo đảm an toàn vận hành.
Bên cạnh đó là thách thức kỹ thuật mang tên “Con vịt California”. Điện mặt trời phát điện mạnh vào buổi trưa khi nhu cầu thấp nhưng suy giảm nhanh vào buổi tối - thời điểm phụ tải tăng cao. Điều này buộc các nguồn điện nền như nhiệt điện khí phải vận hành linh hoạt hơn nhiều so với trước đây.
Theo các chuyên gia, số lần khởi động và dừng tổ máy nhiệt điện khí đã tăng từ khoảng 21 lần mỗi năm lên tới 450 lần mỗi năm, làm giảm hiệu suất, rút ngắn tuổi thọ thiết bị và gia tăng chi phí vận hành toàn hệ thống.
Một vấn đề khác là rủi ro “tài sản mắc kẹt”. Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng quá trình chuyển đổi từ cơ chế giá FIT sang cơ chế đàm phán giá và hợp đồng mua bán điện trực tiếp (PPA) còn chậm, tạo khoảng trống pháp lý khiến nhiều dự án hoàn thành nhưng khó tiếp cận vốn quốc tế do thiếu các cam kết rõ ràng về khả năng huy động sản lượng.
Hoàn thiện thể chế, giá điện và hệ thống lưu trữ
Để tháo gỡ các nút thắt, ông Trịnh Quốc Vũ cho biết Bộ Công Thương đang hoàn thiện dự thảo Luật Điện lực (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội thông qua vào tháng 10/2026. Đây được xem là nền tảng pháp lý quan trọng nhằm thể chế hóa các chủ trương tại Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị, đặc biệt đối với đầu tư nguồn điện và lưới truyền tải.
Song song với đó, cơ chế giá điện hai thành phần đang được nghiên cứu triển khai theo hướng phản ánh đầy đủ hơn chi phí thị trường, chi phí môi trường và giá trị của các nguồn điện linh hoạt. Các khung giờ cao điểm cũng được điều chỉnh để phù hợp với diễn biến phụ tải thực tế, tạo tín hiệu giá rõ ràng hơn cho doanh nghiệp và người dân.
Các chuyên gia đồng thời nhấn mạnh vai trò của hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) và các nguồn điện linh hoạt như LNG trong quá trình chuyển dịch năng lượng. Theo ông Trịnh Quốc Vũ, việc đầu tư các trung tâm lưu trữ tại những điểm nút phụ tải sẽ giúp tăng khả năng hấp thụ điện tái tạo, bổ sung công suất vào giờ cao điểm và nâng cao độ ổn định của hệ thống điện quốc gia, qua đó hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng xanh gắn với bảo đảm an ninh năng lượng.























