Nếu được thông qua, đây sẽ là một trong những chương trình can thiệp chính sách lớn nhất của Hà Nội đối với lĩnh vực giao thông đô thị, kết hợp đồng thời ba trụ cột: trợ cấp trực tiếp cho người dân, ưu đãi mạnh cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và các biện pháp tổ chức giao thông mang tính cưỡng chế theo lộ trình.
Gói ngân sách 23.000 tỷ đồng và các khoản hỗ trợ trực tiếp cho người dân
Theo dự thảo, tổng kinh phí triển khai các chính sách trong 5 năm từ 2026 đến 2030 dự kiến khoảng 23.000 tỷ đồng. Dòng vốn được phân bổ theo hướng tập trung mạnh vào giai đoạn đầu của chương trình, trong đó năm 2026 dự kiến chi 2.693 tỷ đồng, năm 2027 tăng vọt lên 9.221 tỷ đồng, năm 2028 khoảng 6.690 tỷ đồng, năm 2029 là 3.745 tỷ đồng và năm 2030 còn 327 tỷ đồng.
Cấu trúc phân bổ này cho thấy Hà Nội dự kiến dành nguồn lực lớn nhất trong hai năm đầu để tạo cú hích đủ mạnh cho quá trình thay đổi phương tiện và phát triển hạ tầng, thay vì kéo dài hỗ trợ trong nhiều năm với quy mô nhỏ.
Với người dân, trọng tâm của chính sách là hỗ trợ chuyển đổi xe máy. Mỗi cá nhân được hỗ trợ đối với một phương tiện và có thể lựa chọn giữa hai hình thức.

Phương án thứ nhất là nhận hỗ trợ trực tiếp bằng tiền, với mức tương đương 20% giá trị xe mới nhưng tối đa 5 triệu đồng/xe. Đối với hộ nghèo, thành phố hỗ trợ 100% giá trị phương tiện nhưng không quá 20 triệu đồng. Hộ cận nghèo được hỗ trợ 80% giá trị phương tiện, tối đa 15 triệu đồng.
Phương án thứ hai là nhận vé sử dụng dịch vụ vận tải hành khách công cộng, bao gồm xe buýt và đường sắt đô thị, với tổng giá trị 5 triệu đồng nếu người dân không nhận hỗ trợ tiền mặt.
Song song với đó, Hà Nội dự kiến hỗ trợ 50% lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký và biển số đối với xe máy chuyển đổi sang năng lượng sạch. Riêng hộ nghèo và hộ cận nghèo sẽ được hỗ trợ toàn bộ khoản phí này.
Chính sách được thiết kế theo hướng chỉ hỗ trợ đối với việc mua mới hoàn toàn phương tiện sử dụng năng lượng sạch, thay vì cải tạo từ xe cũ. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm an toàn về công nghệ pin, đồng thời hướng tới mục tiêu giảm phát thải thực chất thay vì tạo ra thị trường xe điện cũ chất lượng thấp.
Doanh nghiệp được hỗ trợ lãi vay, miễn tiền thuê đất và ưu đãi phí
Bên cạnh hỗ trợ cho người dân, dự thảo dành nhiều ưu đãi đáng kể cho doanh nghiệp đầu tư vào hệ sinh thái giao thông xanh.
Đối với các doanh nghiệp xây dựng trạm tiếp năng lượng sạch công cộng hoặc đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ giao thông phi cơ giới, ngân sách thành phố sẽ hỗ trợ 30% lãi vay ngân hàng thương mại trên toàn bộ giá trị hợp đồng vay trong suốt thời gian vay vốn, với thời gian hỗ trợ tối đa 5 năm. Doanh nghiệp cũng có thể tiếp cận nguồn vốn từ Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Hà Nội và Quỹ Bảo vệ môi trường Hà Nội theo quy định hiện hành.
Ngoài ra, các dự án trạm sạc công cộng nằm trong danh mục được UBND Thành phố phê duyệt cùng các dự án hạ tầng giao thông phi cơ giới sẽ được hỗ trợ 100% tiền thuê đất trong 5 năm đầu.

Về thủ tục đăng ký phương tiện, các tổ chức và đơn vị được hỗ trợ 50% lệ phí cấp đăng ký và biển số đối với phương tiện giao thông xanh khi đăng ký lần đầu. Riêng doanh nghiệp kinh doanh taxi và xe buýt thực hiện chuyển đổi phương tiện xanh và tiếp tục sử dụng biển số định danh đã cấp sẽ được hỗ trợ 100% lệ phí.
Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho thuê phương tiện giao thông xanh phục vụ mục đích công cộng cũng được miễn phí sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố để làm điểm đỗ và tập kết xe trong thời gian tối đa 5 năm.
Cơ chế “kéo - đẩy” và vùng phát thải thấp
Điểm nổi bật của dự thảo là sự kết hợp giữa các biện pháp khuyến khích và các công cụ làm gia tăng chi phí đối với phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Ở chiều “kéo”, thành phố sử dụng ngân sách để trợ cấp chuyển đổi phương tiện, miễn hoặc giảm nhiều loại phí, đồng thời mở rộng chính sách miễn vé giao thông công cộng cho người có công, người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em dưới 6 tuổi, hộ nghèo, học sinh, sinh viên và công nhân khu công nghiệp. Hà Nội cũng dự kiến miễn vé cho toàn bộ hành khách vào các dịp lễ, Tết hoặc các sự kiện đặc biệt.
Ở chiều “đẩy”, UBND Thành phố sẽ được giao quyền điều chỉnh tăng giá dịch vụ trông giữ đối với xe sử dụng nhiên liệu hóa thạch, qua đó làm rõ hơn chênh lệch chi phí giữa phương tiện truyền thống và phương tiện xanh.

Hạt nhân của toàn bộ chính sách là vùng phát thải thấp (Low Emission Zone - LEZ). Trên cơ sở Nghị quyết số 57/2025/NQ-HĐND được ban hành ngày 26/11/2025, Hà Nội đang xây dựng đề án triển khai trong phạm vi Vành đai 1, sau đó mở rộng ra các khu vực khác.
Dự thảo cũng bám sát yêu cầu của Chỉ thị số 20/CT-TTg ban hành ngày 12/7/2025. Theo đó, từ ngày 1/7/2026 sẽ không còn xe máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch lưu thông trong Vành đai 1; từ ngày 1/1/2028 phạm vi hạn chế mở rộng ra Vành đai 1 và Vành đai 2, đồng thời bắt đầu hạn chế ô tô cá nhân chạy xăng, dầu; từ năm 2030 tiếp tục mở rộng tới khu vực trong Vành đai 3.
Taxi, xe công nghệ và shipper phải hoàn tất chuyển đổi vào năm 2030
Ngoài các biện pháp đối với người dân, dự thảo đặt ra lộ trình bắt buộc đối với các loại hình vận tải hành khách và giao hàng.
Đối với xe máy kinh doanh vận tải, bao gồm xe công nghệ và lực lượng giao hàng, tỷ lệ phương tiện xanh tối thiểu phải đạt 20% trước ngày 1/1/2027, tăng lên 50% trước ngày 1/1/2028 và hoàn tất 100% trước ngày 1/1/2030.
Đối với taxi và xe chở người dưới 8 chỗ hoạt động kinh doanh vận tải, các doanh nghiệp phải bảo đảm tỷ lệ phương tiện xanh đạt 50% trước năm 2028 và 100% trước năm 2030. Riêng từ ngày 1/7/2026, mọi phương tiện đầu tư mới hoặc thay thế trong nhóm này bắt buộc phải là phương tiện sử dụng năng lượng sạch.

Sau năm 2035, UBND Thành phố sẽ căn cứ điều kiện thực tế và mức độ hoàn thiện của hệ thống giao thông công cộng để quyết định việc hạn chế lưu thông một số loại phương tiện cá nhân trên từng tuyến đường, làn đường, khung giờ cụ thể. Mỗi giai đoạn hạn chế phải được công bố tối thiểu 12 tháng trước khi áp dụng.
1.550 trạm sạc trong Vành đai 3 và yêu cầu tích hợp vào mọi công trình mới
Một trong những trụ cột quan trọng nhất của chương trình là phát triển hạ tầng tiếp năng lượng sạch công cộng.
Theo dự thảo, đến trước ngày 1/1/2030, tối thiểu 15% số chỗ đỗ xe tại các chung cư, trung tâm thương mại, bệnh viện và các công trình công cộng hiện hữu thuộc danh mục đủ điều kiện phải được lắp đặt trạm sạc công cộng.
Đối với các công trình đầu tư mới, tỷ lệ bắt buộc tăng lên tối thiểu 30% số chỗ đỗ xe theo quy hoạch.

Theo tính toán của thành phố, khu vực trong Vành đai 3 có thể bố trí khoảng 1.550 điểm hoặc trạm tiếp năng lượng sạch, tương đương mật độ tiếp cận bình quân khoảng 200-300 m/trạm. Nếu triển khai đúng tiến độ, đây sẽ là một trong những mạng lưới hạ tầng sạc dày đặc nhất cả nước.
Dự thảo cũng yêu cầu xây dựng bản đồ số GIS tích hợp toàn bộ vị trí trạm sạc hiện hữu và theo quy hoạch, kết nối với Trung tâm điều hành đô thị thông minh và các cơ sở dữ liệu liên quan. Thành phố đồng thời sẽ phát triển nền tảng phần mềm tập trung để tiếp nhận hồ sơ hỗ trợ, xác thực dữ liệu dân cư và xử lý trực tuyến nhằm bảo đảm công khai, minh bạch và hạn chế nguy cơ trục lợi chính sách.
Bài toán ngân sách, điện lưới và tính khả thi
Dù quy mô chính sách được đánh giá là chưa từng có, dự thảo cũng đặt ra hàng loạt thách thức về tài chính và tổ chức thực thi.
Ban Đô thị HĐND Thành phố đã lưu ý đến khả năng cân đối nguồn vốn 23.000 tỷ đồng trong bối cảnh Hà Nội đồng thời triển khai nhiều dự án hạ tầng trọng điểm khác.
Ở góc độ kỹ thuật, việc hàng triệu phương tiện chuyển sang sử dụng điện sẽ tạo áp lực lớn lên hệ thống điện, đặc biệt tại các khu dân cư cũ có hạ tầng chưa đồng bộ. Yêu cầu về phòng cháy chữa cháy, cải tạo mặt bằng và quản lý vận hành tại các chung cư, tòa nhà thương mại cũng có thể làm gia tăng chi phí đầu tư.
Đối với chủ sở hữu công trình, chính sách mở ra cơ hội khai thác dịch vụ trạm sạc nhưng đồng thời đòi hỏi chi phí cải tạo hệ thống điện và đầu tư bổ sung hạ tầng an toàn. Nếu danh mục vị trí đủ điều kiện không được công bố minh bạch và cập nhật thường xuyên, nguy cơ đầu tư manh mún hoặc không phù hợp nhu cầu thực tế là hiện hữu.
Xét tổng thể, dự thảo Nghị quyết không chỉ là chương trình trợ cấp cho xe điện mà là một khuôn khổ chính sách toàn diện, kết hợp ngân sách công, ưu đãi đầu tư, hạ tầng và biện pháp quản lý giao thông để định hình lại mô hình di chuyển của Thủ đô trong thập niên tới.
Thành công của chương trình sẽ phụ thuộc không chỉ vào quy mô hỗ trợ tài chính mà còn ở khả năng xây dựng hạ tầng đủ nhanh, vận hành minh bạch và tạo được sự đồng thuận xã hội trong một quá trình chuyển đổi có ảnh hưởng trực tiếp tới hàng triệu người dân và doanh nghiệp.




















